..::Kien06VL::..
Chào mừng bạn đến với Kien06VL. Chúc bạn tìm được nhiều điều bổ ích từ diễn đàn!
Để xem được nội dung chính của diễn đàn bạn cần đăng nhập hoặc đăng ký.


To view all main content you need to log in or register.

Những bộ phận của nhà rường Quảng Nam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

normal Những bộ phận của nhà rường Quảng Nam

Bài gửi by Milunice259 on 2009-01-25, 09:20

Kiến Trúc Nhà Rường
Là nhà ngôn ngữ vừa là nhà dân tộc học,ông Nguyễn Bạt Tụy đã có nhiều
bài viết nghiên cứu về văn hóa miền Trung và Tây Nguyên.Các bộ phận của
bất cứ căn nhà nào cũng có thể chia ra làm ba hạng: những bộ phận che
trên, những bộ phận vây quanh và những bộ phận phụ thuộc.

Vào những năm 60,70 của thế kỷ XX, các tập san như Văn hóa Nguyệt san, Xây
dựng mới Sài Gòn… đã liên tục đăng nhiều số về những bài khảo luận của
ông. Để tăng thêm nguồn thông tin mà ông đã ghi, giải thích cặn kẽ
trong những chuyến đi điền dã, cách dựng nhà, những bộ phận cấu kiện
của những ngôi nhà xưa ở Quảng Nam, chúng tôi xin trích một phần trong
bài “Những nhà xưa ở Quảng Nam”, Văn hóa Nguyệt San số (1961) Sài Gòn
từ trang 233-241
1.Các bộ phận của bất cứ căn nhà nào cũng có thể chia ra làm ba hạng: những
bộ phận che trên, những bộ phận vây quanh và những bộ phận phụ thuộc.

Những bộ phận che trên của căn nhà Quảng Nam, cũng như ở Bắc hay ở Nam, gồm
có hai mái chính, một mái trước, một mái sau gặp nhau ở nóc, và hai mái
bên nếu nhà có hai chái. Các mái được chống đỡ bằng cột và sườn mái lập
thành nởi những kèo đổ dốc xuống hai bên nóc, trên có những hoành tử
nằm ngang và trên nữa có những rui nằm dọc theo chiều kèo. Ngoài những
tên ấy, ta thấy vài cách gọi các bộ phận hơi khác.
a. Cây gỗ dài nằm ngang trên vị trí của các đầu kèo giáp nhau để đỡ nóc không
gọi là giép nóc (Hà-đông) như ở Bắc, mà gọi là đòn đông. Tiếng này phát
âm là đòn đông từ Bình Định trở vào, là đòn-đôông ở tỉnh Bình Trị
Thiên, và có lý do của nó. Khác cái “giép nóc” ở Bắc thường xẻ vuông và
ở những nhà năm gian sáu vì, muốn kỹ hơn thì “chém cạnh xoi lu” rồi
“thắt cổ chày” hai đầu cho lọt vào hai cái chốt ở cái chồng – rường
(x.A.1d), ”đòn-đông” ở đây chuốt tròn theo nguyên hình cây gỗ hạ ở rừng
về, với một đầu “gốc” hơi lớn hơn đầu “ngọn” để dễ phân biệt khi chọn
hướng đặt.
Theo mối tin tưởng cổ truyền thì cây đòn đỡ nóc là chủ chốt của căn nhà, nên đầu gốc
phải để về một hướng nhất định là bên tả, đầu ngọn để về bên hữu. Lại
theo một ước lệ thì trong căn nhà, bên tả gọi là “đông”, bên hữu gọi là
“tây” (“đông vị tà,tây vị hữu”), nên cây đòn ấy phải có góc quay về bên đông, và nhân đó có luôn tên là đòn-đông.
Như vậy tiếng đông ở đây để gọi hướng, vì ngoan cố hay vì hiểu lầm nghĩa
tiếng đông, đã cho đòn đông quay về phía biển, tức phương đông, mà
ngược với hướng nhà cổ truyền, thì chẳng bao lâu cũng xảy ra nhiều
chuyện lục đục và phải xoay chiều đòn đông lại.
Nhân đó, về cây đòn đông có một giai thoại nho nhỏ, theo đó xưa kia có một
ông nhà giàu đã xuýt vì tính tình khắc nghiệt của ông mà bị hại trong
vụ cất nhà. Thoạt đầu ông quá chặt chẽ với người thợ rừng nên người này
“chơi trác”, chuốt gốc cây nhỏ hơn ngọn để người thợ cả cứ đầu lớn mà
để về bên “đông” và như thế là lầm gốc về bên “tây”. Nhưng rồi ông ta
lại quá khó tính với người thợ cả, nên người thợ này lập tâm phản cho
bỏ ghét mà để đầu nhỏ về bên “đông” thay vì đầu lớn, đinh ninh rằng đó
là đầu ngọn. Ai ngờ rùi lại hóa may: chính đầu nhỏ ấy mới là đầu gốc và
ông nhà giàu vô tình đã thoát hiểm, vì đầu gốc rút cục lại vẫn ở bên
“đông”.
b. Các cột cũng có nhưng khác nhau tùy theo vị rí của nó trong cái nhà. Nếu ta nhận xét một căn
nhà rường thông thường có sáu hàng cột thì hai hàng cột ở liền hai bên
nóc là cột lòng nhất, tức cột cái trước và cột cái sau ở Bắc, hai hàng
cột kế đó là cột lòng nhì, tức cột đóng cửa và cột cửa võng ở Bắc; hai
hàng cột trước nhất và sau nhất và sau cùng là cột lòng ba, tức cột
hiên trước và cột hiên sau ở Bắc.
Cột nhà ở Quảng Nam thường sàn sàn như nhau, không mấy khi lớn, chớ ở Bắc phân biệt
những nhà “tiểu khoa” có cột 2 tấc, những nhà “trung khoa” có cột trên
2 tấc, và những nhà “đại khoa” có cột tới 5 tấc. Ngoài ra, những cột ở
hai bên chái có những tên đặc biệt: cột quyết để chống, hai cây
“quyết”, cột đấm để chống hai cây “đấm”. Hai tiếng này được dùng suốt
lên tới Quảng Bình, Hà Tĩnh.
c. Các kèo cũng bắt vào nhau ở chỗ giao nguyên, nghĩa là chỗ gặp nhau dưới đòn
đông, bằng những chốt dài gọi là con sỏ như ở Bắc, nhưng ở Quảng Nam
không phân biệt như ở Bắc: kèo dài suốt nóc xuống chân mái, với kẻ có
từng đoạn chồng lên nhau ở các đầu cột mà truyền đi. Bởi vậy ở đây
không có những tên: Nhà kèo là hạng nhà thường; Nhà kẻ là hạng nhà lớn
có kẻ truyền chia ra kẻ nóc, kẻ ngồi, kẻ hiên. Trái lại, theo mỗi khu
giữa hàng cột,người ta chỉ gọi: kèo lòng nhất từ đòn đông xuống cột
lòng nhất; Kèo lòng nhì từ cột lòng nhất xuống cột hàng nhì; kèo lòng
ba từ cột lòng nhì xuống cột lòng ba.
d. Các cây gỗ nối các cột với nhau có hai loại: trính và xuyên.
Trính nối cột trước với cột sau. Nó có thể là trính đoản nếu chỉ ở giữa hai
cột lòng nhất với hai đầu thòi ra mà chặn bằng hai cái chốt thắt, hay
là trính-trường nếu chạy suốt từ tường trước đến tường sau mà không có
cột chống giữa. Những trính này, dầu là đoản hay trường, thường đỡ một
hay hai cột ngắn đứng trên để chống kèo: nếu một cái thì ăn thẳng vào
giao nguyên, nếu hai cái thì gặp hai bên kèo ở lưng chừng. Đó là những
con đội mà từ Bình Định trở vào người ta gọi là trụ lỏng. Ở Thừa Thiên,
cái trính gọi là cái trến, còn con đội lại là trụ tiêu đứng trên hạ để
đỡ trến-thượng, hay báp quả (có người nói áp quả) đứng trên trến-thượng
để chống đòn đông.
Tôi còn nhớ, khi thăm vài ngôi chùa ở núi Non Nước, có hỏi chuyện vài thầy chùa trẻ tuổi về các bộ
phận trong chùa. Khi hỏi về “con đội” thì không vị nào biết gọi là gì
mà xác nhận là lo việc tu hành nên không để ý đến những cái tỉ mỉ ấy.
Sau cùng một vị đến bảo rằng đó là cái “trụ lòng” thì tôi không cần chú
trọng đến giọng nói mà hỏi ngay: “xin lỗi thầy, nếu tôi không lầm thì
thầy là người Bình Định”. Nhà sư rất ngạc nhiên và chịu rằng tôi đã
đoán trúng: đó cũng là dịp để áp dụng những nhận xét về tiếng địa
phương.
Riêng ở những nhà lớn, nhất là ở nhà phố,
thay vì một cây trính, người ta có thể chồng dùi, nghĩa là để hai ba
cây trính chồng lên nhau bằng những con đội ngắn có trốn phình ra như
hình trái bí mà gọi là trụ trái bí. Đó là trường hợp kiểu trính Nhật
Bổn trong đó có trính nhất, trính nhì, trính ba, kể từ dưới lên, như
lối chồng rường ngoài Bắc có ba cái Rường chồng lên nhau bằng những đấu
trên một cái báng,ở những kiểu nhà “đại khoa”.
Nhân đây cũng nên thêm rằng ở Trung, ngoài trính ra, không còn có cây gỗ dọc
nào nối cột với nhau nữa, chớ ở Bắc, dưới báng còn có xà dọc chia ra xà
lòng ở giữa hai cột cái và hai xà nách trước và sau. Ở các đình-miếu
hay các nhà quan, người ta thường bỏ xà lòng đi cho tòa kiến trúc có vẻ
nguy nga, nhưng ở nhà dân phải để, nếu không thì là “lộng hành”.
Xuyên nối giữa các cột giữa với cột bên, tức là xà ngang ở Bắc, trám ở Hà Tĩnh. Ở những kiểu nhà “ba gian hai chái” cố nhiên mỗi hàng cột chỉ có một xuyên nằm ngang, nhưng ở kiểu nhà “ba gian hai chái”,
ngoài những đoạn xuyên nối các cột ở trước và sau, còn có hai trường
hợp riêng về xuyên ở giữa. Trong các nhà rội, ở hàng cột cái có một
xuyên trung ở giữa và hai xuyên thứ ở hai bên mà thấp hơn: đó là loại
xuyên tam sơn. Trong các nhà rường thì nhiều khi hai hàng cột lòng nhất
có hai xuyên trung song song theo chiều ngang và hai trính đoản song
song theo chiều dọc mà đỡ những tấm ván bắc ngang để lập thành cái
khuông cụi.
Ngoài ra cũng nên kể cây xà cò (có lẽ
là xà cò nói chệch thành, vì ở Thừa Thiên còn có tên xà rút), song song
với đòn đông mà ở dưới một chút để nối, hay “co”, hai đầu cột với nhau.
e. Các cây gỗ đặt ngang trên kèo để đỡ rui gọi là hoành tử ở Quảng Nam, cũng
như ở Bắc, và một số gọi là đoàn tay, như người ta vẫn quen gọi ở vùng
Nghệ Tĩnh. Nhưng đặc biệt có một điều là các hoành tử đặt đúng trên đầu
cột thì gọi là xà, và “cái mè” ở Bắc gọi là mèn, và ở xã Kỳ Sanh, quận
Tam Kỳ tôi còn thấy phân biệt mèn ở nhà ngói với ron ở nhà lá. Trái
lại, ở Thừa Thiên, xà nối các đầu cột với nhau và trên nó vẫn có đòn
tay để đỡ rui.
2. Những bộ phận vây quanh nhà gồm ba mặt ván hay tường và một mặt cửa.
a. Về những tường quanh nhà, gọi là thành rào thì không có gì đáng nói, trừ
cách gọi tên quá lạ của nó, và hai lối đi chừa ra hai bên ngăn hai hàng
cột bên với vách và gọi là hè dục, nghĩa là một thứ hè đã bít kín ở các
nhà chỉ có 4 hàng cột và khi cất lên không trù tính trái.
Hơn nữa, hai tấm vách hẹp ở mặt trước nối hai đầu thành rào với hai cột bên
cũng có một tên không kém lạ là phên bắc, và tiếng phên này làm ta suy
luận và ước đoán rằng xưa kia chắc có nhiều nhà có làm phên ở đó thay
vì tường. Nhưng cũng phải nhận xét rằng ở đây trước nhà không thấy che
phên, che dại hay che sáo. Riêng tiếng sáo phải lên đến Huế mới thấy
nói đến, nhưng không phải thứ sáo bằng nan tre nhỏ ken khít, đứng trong
nhìn ra thì thấy rõ, đứng ngoài nhìn vào thì tối om, mà là thứ sáo bằng
nan tre to ken thưa chặn lên trên lớp gót (=cót) ngoài cùng của cái mui
“nốc”, một thứ thuyền bằng mũi băng lái thông dụng từ Thừa Thiên lên
tới Hà Tĩnh.
b. Về cửa trước, có ba khuôn dựng trong phạm vi bốn cây cột lòng ta, thì nhiều cái đáng kể
hơn. Cửa các nhà thôn quê ở Bắc thường có một cái khung dựng trên một
cây ngạch nằm ngang sát đất. Phía dưới cây gỗ ngang của khung bao giờ
cũng có một cây thứ hai gọi là quang, phía trên ngạch lại có một cây gỗ
ngang khác gọi là bậc. Từ quang đến khu bằng từ bậc đến ngạch và mỗi
khoảng cách ấy được bít bằng những tấm ván có những tên rất có ý nghĩa:
lá gió trên và lá gió dưới,
Nhưng cửa các nhà ở Quảng Nam nói riêng và ở miền Trung nói chung chỉ có ngạch mà không có
bậc, nghĩa là ta có thể qua lại tự nhiên, khỏi phải “ngoạch”cái chân mà
bước từ hè vào nhà. Như vậy cái khuôn nhận phía trên cửa ở Quảng Nam
tức là tấm lá gió trên ở Bắc. Còn ở Thừa Thiên thì nó lại có tên là
liên ba cửa, vì cũng giống các liên ba tiền, hậu, thượng, hạ ở phía
trong nhà.
3. Cuối cùng là vài bộ phận phụ thuộc mà ta có thể kể như sau:
a. Những khuông nhận (tác giả muốn nói những khuông bông trang trí trong lòng
xuyên B.T) để trám vào các khoảng trống giữa xuyên ở dưới, xà ở trên và
cột hai bên, dầu ở hàng cột lòng nhất hay lòng ba. Khuông nhận này có
thể là cả một tấm ván, là những tấm ván nhỏ lồng vào then ngang dọc,
hay là những con tiện xinh xắn góp vẻ tinh vi vào những đường chạm trỗ
ở các đầu trính, đầu kèo.
b. Những phên lụa là những vách ván chạy vòng theo các cột bên và sau,thường
thấy trong các kiểu nhà vườn chỉ có bốn hàng cột: hai hàng cột lòng
nhất, cũng gọi là cột cái, hai hàng cột lòng nhì, cũng gọi là cột con.
Phên lụa này chạy dọc nối hai cột cái tiền và hậu ở hai bên, rồi chạy
ngang nối hai cột cái hậu ở bên và giữa, để đến khoảng hai cột cái hậu
giữa thì dựng thụt vào phía sau mà không ăn vào cột con hậu. Như vậy,
hai gian thứ ở hai bên trông nông hơn gian trung ở giữa, vì gian này có
thêm một chỗ ăn sâu vào để bày bàn thờ, và người ta có thể đi vòng từ
hè dục này qua phía sau các phên lụa mà ra hè dục kia.
c. Hai khu đĩ là phần tam giác còn chừa lại phía trên chỗ mái chái nhà đổ từ
hai đầu hồi xuống. Tiếng này thông dụng cho đến Quảng Bình, Hà Tĩnh, và
câu tục ngữ “Ma trèo khu đĩ” là một bằng chứng rằng tiếng ấy có từ lâu
ở miền Trung, mặc dầu không được nhã, trong khi ở miền Bắc, theo tầm
hiểu biết của tôi, không ai nghĩ đến một tên cho phần nhà ấy.



Nguyễn Bạt Tụy (Theo TTBTDSDT QUẢNG NAM)


Tích "[b]+" cho bài viết hay[/b]
Pass cho sách: booktraining.net


Milunice259
 
 

Libra
Giới tính : Nam
Tổng số bài gửi : 1355
Tuổi : 29
Đến từ : Long An
Nghề nghiệp : Người mẫu
Trạng thái bản thân : Đã có vợ
Điểm tích cực : 2354
Chất lượng bài viết : 342
Châm ngôn sống : Thiên tài chỉ có một phần trăm cảm hứng, còn lại là đổ mồ hôi

Xem lý lịch thành viên http://www.kt06vl.top-forum.net

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết